ADVN

Chọn ngành học trong thời đại A.I: Người trẻ nên nhìn nhận và cân nhắc điều gì trước sự thay đổi của thị trường lao động?

Sự phát triển của A.I đang làm thay đổi yêu cầu của thị trường lao động, đặt người trẻ trước những cân nhắc mới khi lựa chọn ngành học và chuẩn bị cho tương lai nghề nghiệp.

Chọn ngành học trong thời đại A.I: Người trẻ nên nhìn nhận và cân nhắc điều gì trước sự thay đổi của thị trường lao động?
Khánh Linh
Content Writer @ Advertising Vietnam19 Thg 09 2026

Trước đây, quyết định chọn ngành đại học thường xoay quanh các yếu tố như sở thích cá nhân, năng lực học tập, mức thu nhập kỳ vọng và nhu cầu tuyển dụng của thị trường. Giờ đây, làn sóng A.I xuất hiện như một biến số mới, buộc học sinh còn phải tính toán đến mức độ ngành nghề bị A.I tác động sau 4 năm theo học, khiến quyết định chọn ngành dần trở nên phức tạp hơn trước.

Với sự ảnh hưởng từ A.I, việc đánh giá triển vọng ngành nghề vì thế cần được nhìn nhận xa hơn, ngoài những dự đoán về công việc nào sẽ bị A.I thay thế, để hiểu được cách công nghệ thay đổi nhiệm vụ và năng lực cần thiết của người lao động. Vậy trước những chuyển biến ấy, người trẻ nên cân nhắc những yếu tố gì để lựa chọn ngành học phù hợp và chuẩn bị cho tương lai dài hạn?

Hãy cùng Thạc sĩ Lê Hiếu Nghĩa, Giảng viên Khoa Marketing, Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP.HCM (UEF), tìm hiểu về vấn đề này!

1. Theo thầy, làn sóng A.I đang khiến việc lựa chọn ngành đại học thay đổi như thế nào? Đặc biệt với những ngành có tính chất sáng tạo như Marketing, Truyền thông, Thiết kế,...?

Theo thầy, A.I đang làm thay đổi cách chúng ta nhìn về một ngành học, chứ chưa làm mất đi giá trị của ngành học đó. Điều nó phơi bày là một sự thật vốn đã đúng từ lâu: tên ngành đại học mà bạn chọn chưa bao giờ quyết định sự nghiệp của một người.

Trước đây, khi chọn đại học, phần lớn các em đặt câu hỏi: Học ngành này ra làm nghề gì? Thầy cho rằng trong thời đại A.I, câu hỏi quan trọng hơn phải là: Trong ngành này, phần việc nào A.I sẽ làm thay, và phần việc nào mình phải trở nên giỏi hơn? Đây là một thay đổi nhỏ trong cách hỏi, nhưng nó dẫn đến hai lựa chọn rất khác nhau.

202509291905190029mymywasjlz7t41f7y73jwap6ha-17704725398614243954-1770679340798-17706793409341609758285.png

Nhiều năm trước khi làn sóng A.I phát triển mạnh mẽ, một sinh viên học hơi lệch ngành vẫn kiếm được việc tốt, vì thị trường còn nhiều chỗ cho người làm ở mức khá. Nay chính những phần ở “mức khá” đó là lại là một trong những phần mà A.I làm nhanh nhất và rẻ nhất. Thứ đang biến mất không phải là ngành nghề, mà là những công việc mà một người bình thường làm được sau vài tháng học nghề.

Với nhóm ngành sáng tạo, thầy phân biệt rõ hai việc thường bị gộp làm một đó là: nghĩ ra và làm ra.

Phần lớn thu nhập của ngành sáng tạo Việt Nam đến từ khâu làm ra: viết caption, dựng banner, cắt video, xuất mười hai phiên bản kích thước cho một bộ hình quảng cáo. Đó đúng là khâu đang bị A.I kéo giá xuống nhanh nhất. Thầy đã chứng kiến những agency phải sửa lại báo giá gói nội dung chỉ trong vòng một năm.

Nhưng khâu nghĩ ra thì ngược lại. Hiểu đúng vấn đề kinh doanh của khách hàng, tìm ra điều chưa ai nói, quyết định đặt ngân sách vào phương án nào, và chịu trách nhiệm nếu chiến dịch thất bại, những việc này đang có giá cao hơn trước, vì số người làm được vẫn rất ít.

Hallyu 1.png

Có một điểm thầy muốn nói để các em bớt hoang mang, dữ liệu nghiên cứu cho thấy xu hướng chủ đạo là A.I làm thay đổi cách làm việc, chứ chưa phải là xóa sổ việc làm. Một báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về Việt Nam công bố tháng 4/2026 ước tính khoảng 11,5 triệu lao động, tức khoảng một phần năm lực lượng lao động, làm những công việc có một phần nhiệm vụ chịu ảnh hưởng của A.I tạo sinh. Nhưng nhóm có nguy cơ bị thay thế gần như hoàn toàn thì chỉ chiếm dưới 2%.

Nói cách khác, phần lớn nghề nghiệp sẽ được viết lại từng đầu việc, chứ không biến mất. Vấn đề của các em không phải là “ngành có còn không”, mà là “trong ngành đó mình sẽ làm phần việc nào”.

Một thông tin trong mùa tuyển sinh năm 2026, ngành Trí tuệ nhân tạo tại Trường Đại học Công nghệ Thông tin (ĐHQG-HCM) đạt điểm chuẩn tuyệt đối 30/30, kéo theo nhóm khoa học dữ liệu, thiết kế vi mạch, an toàn thông tin đều rất cao. Đó là tín hiệu tốt về nhận thức xã hội. Nhưng thầy cũng nhắc các em một điều:

Ngành đang “hot” lúc em nộp hồ sơ và ngành đang “hot” lúc em ra trường là hai chuyện khác nhau, bởi vì nó cách nhau đến bốn năm.

2. Theo thầy, những nhóm ngành nào có thể hưởng lợi từ sự phát triển của A.I, và những nhóm ngành nào có nguy cơ chịu tác động ngược lại?

Thầy sẽ không chia đơn giản thành “ngành an toàn” và “ngành nguy hiểm”. Bởi A.I tác động mạnh nhất không phải lên một ngành, mà lên từng nhiệm vụ bên trong ngành đó. Một ngành hoàn toàn có thể vừa hưởng lợi vừa chịu áp lực cùng lúc.

Đó cũng là lý do trong cùng một công ty, cùng một phòng ban, người này thăng tiến còn người kia phải nghỉ việc. Có ba loại đầu việc cần phân biệt:

  • Loại 1 - Việc có sẵn quy trình, kết quả gần như giống nhau mỗi lần làm. Ví dụ: nhập liệu; soạn văn bản theo mẫu, trả lời khách hàng theo kịch bản có sẵn, dịch tài liệu phổ thông, viết nội dung số lượng lớn. Đây là nhóm công việc có nguy cơ bị thay thế trước tiên.

  • Loại 2 - Việc cần chuyên môn, nhưng phần lớn thời gian là ngồi làm ra sản phẩm. Ví dụ: Marketing, thiết kế, kế toán, nhân sự, lập trình ứng dụng. Với nhóm này, ngành nghề không mất đi, nhưng số chỗ dành cho người mới ra trường ít đi.

  • Loại 3 - Việc phải tự quyết khi thông tin không đầy đủ, phải chịu trách nhiệm, phải có mặt trực tiếp. Ví dụ: Y tế, giáo dục, kỹ thuật hạ tầng, bán dẫn, bán hàng doanh nghiệp, quản lý dự án, tổ chức sự kiện. Ở nhóm công việc này, người lao động thường được A.I hỗ trợ để làm nhiều hơn và tốt hơn.

Để nói cho cụ thể, báo cáo của ILO xác định nhóm chịu rủi ro cao nhất tại Việt Nam là nhân viên văn thư – hành chính, vì công việc của họ có tính lặp lại và quy trình hóa cao. Còn ở cấp độ toàn cầu, báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã đưa cả nghề thiết kế đồ họa vào nhóm nghề đang có xu hướng giảm, điều mà năm năm trước không ai nghĩ tới.

Nhưng thầy xin nhấn mạnh: điều đó không có nghĩa là “ngành thiết kế biến mất”. Nó có nghĩa là thiết kế ở mức làm theo mẫu thì chịu áp lực, còn thiết kế gắn với chiến lược thương hiệu và trải nghiệm, cảm xúc thì vẫn có giá, thậm chí nó còn nâng tầm giá trị sản phẩm do con người tự làm ra.

Hallyu 1 (1).png

Ở loại đầu việc thứ 2, thầy muốn nói kỹ hơn, vì đây là điều đáng lo nhất và ít được nhắc tới nhất. Trước đây một phòng Marketing tuyển năm bạn thực tập sinh để làm những việc cơ bản, tổng hợp tài liệu, viết bản nháp, làm báo cáo, cắt hình,... Bây giờ một nhân sự cứng cộng với A.I làm xong phần đó trong buổi sáng. Nghĩa là nghề Marketing vẫn còn nguyên, nhưng bậc thang đầu tiên để bước vào nghề thì bị rút ngắn lại. Yêu cầu đối với sinh viên mới ra trường vì thế bị đẩy lên cao hơn hẳn so với thế hệ trước.

Có một quy luật thầy học được từ ngành phụ tùng xe gắn máy, và thật sự nó đúng luôn với nghề nghiệp, đó là khi một món hàng bị làm giống hệt nhau ở mọi nơi, người bán mất luôn khả năng ra giá, và không lấy lại được bằng cách sản xuất nhiều hơn, chỉ lấy lại được bằng cách bán một thứ khác khác biệt hơn. Nghề nghiệp vận hành y hệt. Nếu kết quả công việc của em ai làm cũng ra giống nhau, thì em sẽ bị trả lương như một món hàng phổ thông.

Thầy cũng muốn nói một điều để tránh hoang mang không cần thiết, Việt Nam chúng ta đang ở một giai đoạn khác với nước Mỹ.

Chúng ta vẫn đang cần rất nhiều nhân lực cho sản xuất, FDI, bán dẫn, hạ tầng và bán lẻ. Chính báo cáo ILO nói trên cũng ghi nhận: trong giai đoạn 2022–2024, chưa thấy dấu hiệu việc làm sụt giảm với lao động trẻ có trình độ ở những ngành tiếp xúc A.I nhiều tại Việt Nam, việc làm vẫn tiếp tục tăng, vì mức độ ứng dụng A.I ở ta còn ở giai đoạn đầu.

Nhưng “đến chậm” không có nghĩa là “không đến”. Và nó thường đi vào bằng con đường gia công, khi một công ty nước ngoài thuê agency Việt Nam làm nội dung, nay họ tự làm được bằng A.I nên cắt giảm đơn hàng hoặc ép giá xuống. Ngành agency và gia công dịch vụ sẽ cảm nhận trước, các ngành khác cảm nhận sau. Các em có vài năm để chuẩn bị, nhưng chỉ vài năm thôi.

Ảnh con 4.jpg

3. Khi A.I ngày càng tham gia vào nhiều công việc như viết content, lên ý tưởng, phân tích dữ liệu, tạo hình ảnh và hỗ trợ lập kế hoạch truyền thông, lợi thế nghề nghiệp của một sinh viên Marketing hay Truyền thông sẽ nằm ở đâu?

A.I làm rẻ đi kỹ năng “làm”, và làm đắt lên kỹ năng “quyết”.

Theo thầy có bốn lợi thế còn lại của người làm nghề, thầy xếp theo giá trị tăng dần:

  1. Biết đặt đúng câu hỏi: A.I trả lời rất tốt một câu hỏi tốt, nhưng nguy hiểm ở chỗ: nó cũng có thể trả lời rất trôi chảy một câu hỏi sai. Khách hàng nói: “Anh cần tăng nhận diện thương hiệu.” Nếu chỉ nghe và làm đúng yêu cầu đó, ta có thể lao ngay vào một bài toán truyền thông. Nhưng vấn đề thật sự có khi chẳng nằm ở nhận diện. Có thể khách mua một lần rồi không quay lại. Có thể hệ thống đại lý ở tỉnh đang âm thầm chuyển sang bán sản phẩm của đối thủ. Đặt đúng câu hỏi không chỉ là hỏi khách hàng muốn gì, mà là tìm ra vấn đề thực sự nằm ở đâu. Để làm được điều đó, người làm nghề phải bước ra khỏi màn hình, ngồi trong phòng họp, quan sát, hỏi sâu, đi thị trường, nói chuyện với khách hàng và nhìn vào những gì đang thực sự diễn ra. A.I có thể giúp ta xử lý một bài toán rất nhanh. Nhưng xác định đúng bài toán để giải vẫn là lợi thế của con người..

  2. Hiểu thị trường Việt Nam ở những chỗ chưa ai ghi lại: A.I chỉ học được từ những gì đã có dữ liệu. Trong khi đó, rất nhiều hành vi mua sắm của người Việt diễn ra ở những nơi gần như không được ghi chép: chợ truyền thống, tiệm tạp hóa, đại lý cấp hai hay những nhóm Zalo của tiểu thương. Chỉ cần chịu khó đi thực địa vài ngày, quan sát và trò chuyện với người bán, người mua, ta có thể nhìn thấy những điều mà dữ liệu trên Internet không có. A.I có thể đọc thị trường qua dữ liệu; người làm nghề phải biết bước ra ngoài để thấy thị trường thật.

  3. Biết chọn, và giải thích được vì sao chọn: A.I có thể đưa ra 20 phương án trong 30 giây. Nhưng giá trị của người làm nghề nằm ở việc biết chọn một phương án đúng và giải thích được vì sao chọn nó. Đặc biệt, khi phải bảo vệ lựa chọn trước ban giám đốc, kinh nghiệm và khả năng phán đoán mới tạo ra khác biệt. Năng lực đó không đến từ một câu lệnh, mà từ việc làm thật, tích lũy kinh nghiệm, xem nhiều, đọc nhiều và mổ xẻ nhiều chiến dịch có thật. A.I giúp có thêm lựa chọn, nhưng người làm nghề phải chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình. Không có đường tắt.

  4. Dám chịu trách nhiệm: Đây là ranh giới rõ nhất. A.I có thể phân tích rủi ro, phản biện và đưa ra nhiều góc nhìn rất tốt. Nhưng A.I không gánh chịu hậu quả. Chiến dịch thất bại, nó không mất gì cả. Người đứng trước ban giám đốc để giải trình vì sao 500 triệu ngân sách không tạo ra doanh số vẫn là con người. Và thị trường luôn trả giá cao cho người dám đứng ở vị trí đó.

Vì vậy, thầy thường nhắc sinh viên thay đổi một câu trong đầu: từ “A.I làm giúp em” sang “Em biết dùng A.I để làm công việc của mình tốt hơn.” Khác vài chữ, nhưng đó là khác biệt giữa người phụ thuộc vào công cụ và người làm chủ nghề nghiệp.

Thầy có một lời khuyên rất cụ thể cho các em: hãy làm hồ sơ năng lực bằng con số, đừng chỉ bằng hình đẹp. Đừng viết: “Làm nội dung cho fanpage câu lạc bộ”, mà hãy viết: “Làm lại nội dung fanpage, tăng tỷ lệ tương tác từ 1,2% lên 3,8% trong 8 tuần, chi phí 0 đồng, sau khi thử 12 định dạng nội dung”. Chỉ một cách viết khác, nhưng cho thấy em đã làm gì, tạo ra kết quả gì và biết cách đo lường kết quả đó. Nhà tuyển dụng có thể nhận ra sự khác biệt ấy chỉ trong vài giây.

4. Trong bối cảnh A.I phát triển nhanh chóng, doanh nghiệp đang tìm kiếm một nhân sự như thế nào? Giữa kiến thức chuyên môn, khả năng sử dụng A.I và các năng lực khác, đâu là yếu tố được doanh nghiệp ưu tiên khi tuyển dụng?

Thầy hiện tại vừa là nhà tuyển dụng, vừa là giảng viên, nên thầy sẽ đưa ra nhận định thẳng thắn: thầy sẽ không tuyển một người chỉ vì người đó biết dùng A.I.

Và có một thực tế mới, khi hàng trăm hồ sơ đều có thể được viết rất chỉn chu bằng A.I, hồ sơ không còn là bộ lọc hiệu quả nữa. Thứ thay thế hồ sơ là bằng chứng. Em đã làm gì? Tạo ra kết quả gì? Có con số nào chứng minh không? Cuối cùng, A.I có thể giúp em viết một hồ sơ đẹp, nhưng không thể viết thay những gì em thực sự đã làm.

Từ ghế người trực tiếp phỏng vấn, theo thầy thứ tự ưu tiên với các yếu tố doanh nghiệp yêu cầu cho vị trí mới ra trường hiện nay là:

  • Ưu tiên một, nền tảng chuyên môn thật: Đây là điều kiện cần, không thương lượng. Em không thể biết A.I trả lời đúng hay sai nếu bản thân không nắm vững cái gốc của nghề. Vì A.I có thể sai một cách rất thuyết phục, câu chữ mượt, lập luận trôi chảy, nhưng số liệu bịa hoặc kết luận không phù hợp với thị trường Việt Nam. Người thiếu kiến thức nền sẽ dễ dàng tin và nộp nguyên xi những thứ đó cho sếp. A.I có thể thay em làm nhiều việc, nhưng chỉ kiến thức chuyên môn mới giúp em biết thứ nó làm có đúng hay không.

  • Ưu tiên hai, tốc độ học: Công cụ thay đổi từng quý, nên tuyển một người học nhanh thường có giá trị hơn tuyển một người chỉ biết sẵn công cụ. Trong phỏng vấn, có một câu thầy thường hỏi: “Ba tháng gần nhất em tự học được gì, và kết quả cụ thể ra sao?” Câu hỏi này cho thầy biết rất nhiều, em có chủ động học không, học nhanh đến đâu và có biến kiến thức thành kết quả thực tế không. Đôi khi, câu trả lời ấy nói nhiều hơn cả bảng điểm bốn năm đại học.

  • Ưu tiên ba, biết đưa A.I vào quy trình làm việc, không chỉ biết hỏi đáp vài câu: Biết dùng A.I để viết vài đoạn văn là một chuyện, biết thiết kế cả một quy trình có A.I hỗ trợ lại là chuyện khác. Từ nghiên cứu, thu thập thông tin, phác thảo ý tưởng đến kiểm tra chéo và hoàn thiện, người giỏi không chỉ biết hỏi A.I, mà biết đặt A.I vào đúng chỗ trong quy trình làm việc. Đó không còn là khác biệt về công cụ, mà là khác biệt về năng lực làm nghề.

tuyen-dung-viec-lam-1747379460717921035156.png

Và đây là điều thầy muốn nhấn mạnh nhất với các bạn trẻ:

“Biết dùng A.I” như một lợi thế riêng lẻ đang mất giá rất nhanh. Nó đang trở thành một kỹ năng nền, giống như tin học văn phòng những năm 2000 và tiếng Anh những năm 2010: không có thì dễ bị loại, nhưng có thì chưa đủ để được cộng điểm. Lợi thế không còn nằm ở việc em có biết dùng A.I hay không, mà ở việc em dùng A.I để làm nghề giỏi hơn người khác như thế nào.

Thứ đang thực sự khan hiếm là một phép nhân: chuyên môn sâu × biết dùng A.I × kỹ năng làm việc với con người. Gọi là phép nhân vì nếu một trong ba phần bằng không, thì kết quả bằng không, giỏi hai phần kia cũng không cứu được.

Nếu phải gói lại thành một câu để các em có thể dễ nhớ, thì đó sẽ là: Doanh nghiệp không cần một người biết dùng A.I. Doanh nghiệp cần một người giỏi nghề và biết dùng A.I để giỏi hơn nữa. Khi phỏng vấn, thầy và Doanh nghiệp không hỏi “em biết bao nhiêu công cụ A.I”, mà thầy và Doanh nghiệp sẽ hỏi “em đã dùng A.I để giải quyết vấn đề gì, và kết quả ra sao?”.

5. Khi khó dự đoán thị trường lao động sẽ thay đổi như thế nào sau 3 đến 4 năm, người trẻ nên ưu tiên lựa chọn một ngành được cho là “an toàn trước A.I”, hay tập trung xây dựng khả năng thích nghi? Thầy có lời khuyên gì cho học sinh đang đứng trước lựa chọn ngành đại học?

Theo thầy không có ngành an toàn, chỉ có vị trí an toàn bên trong một ngành.

Mỗi mùa tuyển sinh, thầy đều nhận được một câu hỏi gần như giống hệt nhau: “Thầy ơi, ngành nào sau này không bị A.I thay thế?”. Thầy chưa bao giờ trả lời bằng tên một ngành. Thầy thường hỏi ngược lại các em một câu: “Em muốn trở thành người như thế nào, trong một thị trường lao động mà công nghệ thay đổi liên tục?”. Câu hỏi thứ hai khó trả lời hơn nhiều, nhưng đó mới là câu dẫn các em đến một lựa chọn đi được đường dài.

Ý thầy khi nói “vị trí an toàn” là thế này: trong cùng một ngành Marketing, người chỉ biết làm theo yêu cầu thì bấp bênh, còn người biết đặt vấn đề và chịu trách nhiệm về kết quả thì rất khó thay thế. Sự an toàn nằm ở chỗ em đứng trong ngành, không nằm ở tên ngành.

Việt Nam đã có bài học rất đắt về chuyện này. Giai đoạn 2011–2012, tài chính - ngân hàng là ngành được xem là an toàn nhất. Rồi Viện Nhân lực Ngân hàng Tài chính đưa ra dự báo có khoảng 13.000 sinh viên tốt nghiệp ngành này sẽ không xin được việc trong bốn năm sau đó, và ước tính khoảng 40% sinh viên tốt nghiệp năm 2014 phải làm trái ngành hoặc thất nghiệp. Chỉ trong một năm, tỷ lệ thí sinh muốn thi vào ngành này rơi từ 37% xuống 23%. Nghĩa là: Mọi dự đoán về “ngành an toàn” đều có tuổi thọ ngắn hơn bốn năm học đại học.

Thầy cũng không muốn tô hồng vế còn lại của câu hỏi “hay tập trung xây dựng khả năng thích nghi”. Câu “cứ thích nghi là được” nghe rất hay, nhưng sẽ nguy hiểm nếu hiểu sai.

Muốn thích nghi, trước hết phải có một cái gốc để đứng. Người không có chuyên môn nào đủ sâu thì thực ra chẳng có gì để thích nghi cả. Họ chỉ đang trôi từ công việc tạm thời này sang công việc tạm thời khác. Thích nghi không có nghĩa là biết một chút mọi thứ. Đó là có một năng lực đủ sâu để đứng vững, rồi liên tục học thêm để không bị bỏ lại.

gian_lan_ai_1.png

Ba câu hỏi thầy đề nghị các em tự trả lời trước khi chọn ngành:

  1. Ngành này có buộc mình phải tự quyết khi thông tin không đầy đủ không? Càng phải tự quyết, ngành đó càng bền. Ngược lại, những công việc chủ yếu làm theo quy trình có sẵn sẽ có rủi ro bị AI thay thế cao hơn.

  2. Mình có đủ thích nó để theo mười năm không? Lợi thế của con người đến từ tích lũy lâu dài. Chọn một ngành “hot” rồi chán sau hai năm thì không tích lũy được gì. Và người không tích lũy chính là người dễ bị thay thế trước.

  3. Trường này có cho mình chạm việc thật sớm không? Thực tập, dự án doanh nghiệp, cuộc thi chuyên ngành, câu lạc bộ... Bậc thang đầu tiên vào nghề đang ngắn lại. Ai bắt đầu tích lũy từ năm nhất sẽ có lợi thế rất lớn so với người đợi đến năm tư mới bắt đầu.

Thầy xin khép lại bài phỏng vấn bằng câu thầy vẫn nói với sinh viên và phụ huynh: Đừng hỏi: “A.I có thay thế ngành của con không?” Hãy hỏi: “Nếu ngày mai A.I làm được 80% những gì con đang học, thì 20% còn lại, con có thể giỏi hơn người khác không?” Nếu câu trả lời là có, đó chính là ngành nơi con nên đứng.

Và một lời nhắn riêng với các bậc phụ huynh: Ở Việt Nam, người quyết định chọn ngành nhiều khi vẫn là cha mẹ, chứ không phải các em. Điều tệ nhất lúc này là các bậc phụ huynh ép con vào một ngành chỉ vì nghe nói đó là ngành “an toàn”. Trong một thị trường thay đổi liên tục, thứ thực sự an toàn trong hai mươi năm tới không phải là một cái tên ngành, mà là khả năng học lại từ đầu, nhiều lần, mà không sợ hãi. Đó mới là năng lực cha mẹ nên giúp con rèn luyện, thay vì chỉ chọn cho con một cái tên đẹp trên giấy báo trúng tuyển.

Cuối cùng, từ góc nhìn của một người đứng ở cả giảng đường lẫn doanh nghiệp, thầy cho rằng chính các trường đại học cũng phải thay đổi. Đại học không thể chỉ đào tạo sinh viên cho một công việc cụ thể trong 5 hay 10 năm tới. Đại học phải giúp các em có năng lực học lại, làm lại và thích nghi với những công việc mà hôm nay chúng ta thậm chí chưa biết tên. Nếu làm được điều đó, câu hỏi “Ngành nào an toàn trước A.I?” sẽ không còn là một câu hỏi đáng lo nữa.

Ảnh con 1.jpg

Cảm ơn thầy Lê Hiếu Nghĩa đã dành thời gian chia sẻ về những thông tin hữu tích đến độc giả Advertising Vietnam. Chúc thầy thật nhiều sức khoẻ và thành công với những dự định của mình trong tương lai.

Khảo sát

Theo bạn, ngân sách quảng cáo và truyền thông trong nửa cuối năm 2026 sẽ thay đổi như thế nào so với cùng kỳ năm 2025?

Chọn một đáp án

Khảo sát từ Advertising Vietnam

Bài viết liên quan